Đông La trao đổi Nguyễn Huệ Chi về việc so sánh Einsten và Lão Tử

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi mở đầu bài tham luận Tư duy phương Đông nhìn dưới ánh sáng học thuyết Einstein trong Hội thảo Khoa học “Vật lý học hiện đại – Văn hóa và phát triển” do Tạp chí Tia sáng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Ban sáng lập Trường Đại học Phan Châu Trinh thuộc UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức tại Hội An vào hai ngày 31-7-2005 và 1-8-2005, viết: “việc khám phá ra thuyết tương đối của nhà vật lý học Albert Einstein… ý nghĩa lớn lao của nó, theo tôi nghĩ, lại chính là sự tác động dây chuyền và có tính chất lâu dài trong suốt cả một thế kỷ, làm lung lay một phương pháp tư tưởng đã hằn sâu thành nếp, chiếm địa vị độc tôn trong nghiên cứu, có lúc gây bế tắc trì trệ cho nhiều ngành khoa học, không chỉ khoa học tự nhiên mà cả khoa học xã hội và nhân văn – phương pháp duy lý cổ điển [1] của phương Tây”.

Rồi ông kể về thời kỳ đầu ông: “thật may mắn” được “thầy Cao Xuân Huy” cho biết: “có một nhà vật lý người Đức là Einstein từ lâu đã tìm ra một học thuyết hết sức thâm viễn gọi là thuyết tương đối hẹp và rộng mà để hiểu được chúng, dù chỉ là một tí chút nào đấy, đòi hỏi chúng ta phải đảo lộn mọi logique thông thường”; rồi ông “ngạc nhiên và thích thú vô cùng. Cái mệnh đề “A không phải là phi A” bây giờ phải lộn ngược lại mới hiểu được Einstein sao? Con người ấy là ai mà ghê gớm đến thế?”.

Chủ nghĩa Duy lý cổ điển hay hiện đại, với nghĩa chung nhất, đều là học thuyết cho chân lý là kết quả của suy diễn lôgic trên nền tảng tri thức. Để đưa ra Thuyết Tương đối chứng minh sự có lý của những “hiện tượng vô lý” theo tri thức hiện có, Einstein vẫn dùng phương pháp suy luận lôgic; ông đã chỉ ra giới hạn và lầm lẫn của các giác quan khi nhận biết các hiện tượng vật lý, chứ ông không “làm lung lay phương pháp duy lý” nào cả. Ông viết: “Chân lý của một lý thuyết nằm trong trí óc chúng ta, không nằm trong mắt” (Nguyễn Xuân Xanh: Einstein. NXB TP Hồ Chí Minh, 2007, tr.100); rồi “Chúng ta theo thói quen đã… liên kết khái niệm nhất định với những kinh nghiệm của giác quan, đến nỗi chúng ta không ý thức được hố sâu ngăn cách… giữa thế giới của kinh nghiệm giác quan và thế giới các khái niệm và mệnh đề” (Sđd, tr.77). Một người làm việc bằng “trí óc” với các “khái niệm và mệnh đề” không thể không duy lý, còn ý “để hiểu được chúng (thuyết của Einstein – ĐL), dù chỉ là một tí chút nào đấy, đòi hỏi chúng ta phải đảo lộn mọi logique thông thường” cũng có phần có lý nếu coi “logique thông thường” là cơ học Newton. Nhưng thực chất cả GS. Cao Xuân Huy và Nguyễn Huệ Chi, khi đề cao tư tưởng cổ phương Đông và hạ thấp tư tưởng cổ phương Tây, không chỉ coi “logique thông thường” là cơ học Newton mà là tất cả.

Ông Nguyễn Huệ Chi đã hiểu sai lý thuyết của Einstein khi viết: “Cái mệnh đề “A không phải là phi A” bây giờ phải lộn ngược lại mới hiểu được Einstein sao?”. Trong hai định đề cơ bản để xây dựng thuyết Tương đối hẹp (Special theory of Relativity), Einstein viết:

1- Các định luật vật lý là như nhau trong mọi hệ quy chiếu quán tính, được áp dụng cho tất cả các hiện tượng vật lý (kể cả sóng điện từ).

2- Vận tốc ánh sáng trong chân không là hằng số, không phụ thuộc chuyển động của nguồn sáng.

Như vậy, nếu cho thuyết của Einstein là A, thuyết củaNewtonlà phi A, thì để “hiểu được Einstein”, người ta không phải “lộn ngược logique” nào cả, mà cần phải hiểu những hiện tượng vật lý mà mắt ta nhìn thấy không đúng như ta cảm nhận!

Có rất nhiều điều ông Nguyễn Huệ Chi chưa hiểu và lầm lẫn qua câu chuyện “ly kỳ” trên đây. Nếu là người hiểu biết thì ngày ấy ông đã không phải “hết sức kinh dị” và bây giờ cũng không mất công kể lại làm gì, nhất là lại trong một cuộc “Hội thảo khoa học”!

Nếu hiểu vật lý thì sẽ thấy trong tình trạng trên gió lùa không đáng kể, xe coi như chạy thẳng với vận tốc đều, không gian trong xe có thể được coi như một hệ quy chiếu quán tính, mà theo Nguyên lý Quán tính: “Nếu một vật không chịu một lực nào thì nó sẽ đứng yên hoặc tiếp tục chuyển động không đổi”. Tương tự như ta trong xe lửa hoặc trên máy bay (lúc không rung, không xóc, không tăng tốc), thì việc đi lại, rót nước vào cốc và mọi chuyển động sẽ xảy ra y như lúc xe lửa, máy bay đứng yên…

Khi ca ngợi “học thuyết tương đối của Einstein rọi sáng cho cả một thời đại mới: thời đại “giải lý tính” (dérationnel) của nhận thức khoa học” e rằng ông Nguyễn Huệ Chi đã có những suy diễn phản khoa học và đã phản chính Einstein!

Thực ra tôi biết cả GS. Cao Xuân Huy và ông Nguyễn Huệ Chi đều nhầm lẫn. Với tinh thần trên, nếu các ông nói về Cơ học lượng tử thì hợp lý hơn. Có điều, bản chất của Cơ học lượng tử lại ngược với Thuyết Tương đối. Cơ học Tương đối quả có những điều kỳ lạ nếu so với Cơ học Newton, nhưng nó vẫn là cơ học của logique, của xác định, của tất yếu; còn Cơ học lượng tử là cơ học của phi logique, của bất định, của ngẫu nhiên. Chính Einstein đã phản bác điều này với câu nói nổi tiếng: “Chúa không chơi trò xúc xắc”, bởi ông cho rằng thế giới vi mô không phải bất định mà chính khả năng của con người còn chưa đủ trình độ để xác định nó. Điều này cũng chính là nội dung của cuộc tranh cãi vĩ đại trong lịch sử khoa học giữa Einstein và Bohr. Tiếc rằng cho đến nay người ta đã xác nhận trong chuyện này Einstein sai, và Thuyết Tương đối tổng quát của ông vẫn chỉ là thuyết riêng phần, nó chỉ diễn tả được thế giới vĩ mô còn với vi mô thì không. Khi ghép với Cơ học lượng tử, nó không tương thích, giống như trộn dầu vào nước vậy.

Vì vậy, việc dùng khái niệm “giải lý tính” như trên là sai vì các nhà vật lý lại “giải lý tính” tức không quan tâm đến quy luật vật lý và các phương pháp nghiên cứu thì còn làm cái gì? Chẳng lẽ họ lại dùng phương pháp của Tôn Ngộ Không chăng? Thật lạ, bàn về Einstein mà ông Nguyễn Huệ Chi lại có những tư tưởng siêu hình như sau:

Do không hiểu vật lý, kiến thức Nguyễn Huệ Chi lượm lặt ở trên cũng có những mâu thuẫn, khúc trên ông viết “vũ trụ vốn bắt nguồn từ một “khối vật chất Item”, “khối lượng bằng vô cùng”; đoạn sau ông lại viết: “vũ trụ ban đầu có thể trống rỗng không chứa một vật chất hấp dẫn nào cả”. Ông Nguyễn Huệ Chi nên nhớ rằng, nếu “khối lượng bằng vô cùng” đồng nghĩa với “vật chất hấp dẫn” có tỷ trọng bằng vô cùng.

Như vậy, Nguyễn Huệ Chi lại lẫn lộn. Lúc đầu, Einstein quan niệm vũ trụ là tĩnh, nhưng nghiệm mô tả vũ trụ rút ra từ phương trình hấp dẫn của ông lại giãn nở, ông “chống đỡ” bằng cách đưa vào phương trình một hằng số vũ trụ (cosmic constant) để “kéo lại” cho cân bằng. Rồi sau đó, khi người ta xác định được vũ trụ không tĩnh như ông nghĩ, ông đã quẳng cái hằng số mà ông cho là “cái ngu ngốc lớn nhất của đời tôi” (biggest blunder) ấy đi. Chứ không phải nghĩ ngược như Nguyễn Huệ Chi viết, thấy người ta phát hiện vũ trụ giãn nở “buộc ông phải đưa thêm vào hằng số vũ trụ”, nghĩa là Einstein thấy sai rồi mới làm sai, như một hành động ngớ ngẩn! Và thật là nhùng nhằng khi Nguyễn Huệ Chi đã lấy cái sai của Einstein so sánh với “phản” của Lão Tử, rồi cho lý thuyết Einstein đồng nhất với tư tưởng của Lão Tử!

Tư Mã Thiên: tranh luận của nhà văn Đông La với Nguyễn Huệ Chi về học thuật. Bài rất dài của nhà văn Đông La, VỀ MỘT SỰ SO SÁNH KHIÊN CƯỠNG GIỮA EINSTEIN VÀ LÃO TỬ (TRAO ĐỔI VỚI NGUYỄN HUỆ CHI)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: