Ông Nguyễn Trần Bạt nói về những “nhân sĩ, trí thức yêu nước”

Trong bài trả lời phỏng vấn báo Đại Đoàn Kết có tựa đề “Rủi ro nhất của khủng hoảng kinh tế là để xã hội bất ổn”ngày 29/9/2013, ông Nguyễn Trần Bạt, nhà tư tưởng hàng đầu, người nổi tiếng với những lập luận sắc sảo, đầy tính nhân văn, đã nói về một số trí thức, dù không nói trực tiếp là ai nhưng qua nội dung chúng ta đều có thể đoán ra đây là những vị “nhân sĩ, trí thức yêu nước” lúc nào cũng xuất hiện trong các bản tuyên bố, thư ngỏ, kiến nghị trong thời gian vừa qua.

Đầu tiên là chỉ ra nguyên nhân bất mãn: “Những năm mở cửa vừa qua đã giúp một bộ phận dân chúng đô thị có điều kiện sống tốt hơn nên bây giờ khó khăn một chút là bất mãn” và ông cũng phân tích nguyên nhân sâu xa của bất mãn: “những người nhìn cuộc đời qua tâm trạng của mình”. Quả là chính xác, những người như Quang A, Huệ Chi, Tương Lai, Lê Hiếu Đằng… đều là những người như vậy, họ là những trí thức có nhiều tham vọng, nhưng rốt cục thì những bất mãn hay tâm trạng của họ được phản ánh thành “đất nước lâm nguy”.

Ông Bạt chỉ ra rằng những người này luôn chỉ trích mà chỉ trích thì rất dễ: “Tôi phải nói thẳng rằng tôi không thích những ý kiến luôn luôn chỉ trích và đòi thay thế thể chế. Bởi vì chỉ trích dễ lắm, nhưng làm thì khó”, “Tất cả những ý kiến chỉ trích cá nhân những nhà lãnh đạo, chỉ trích thực trạng kinh tế, xã hội tôi nghĩ đều không tích cực. Phân tích nó thì được, nhưng đem chỉ trích, bêu riếu nó thì không nên”.

Ông cũng thẳng thắn phê phán những người đòi thay đổi thể chế: “Đối với người Việt Nam, thể chế chính trị mà chúng ta đang có cho dù còn có những khiếm khuyết thì nó vẫn là một thể chế mà mỗi một người đã cam kết sống với nó. Tôi sinh năm 1946, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời năm 1945. Phải nói cho sòng phẳng, nền cộng hòa này đối với tôi là nền cộng hòa của tôi, tôi phải chăm chút giống như ngôi nhà của tôi, dột thì tôi phải lợp lại. Tôi nghĩ rằng mọi nền cộng hòa đều phải sửa chữa. Tôi đã nghiên cứu và rút ra một kết luận là mọi nền cộng hòa đều phải sửa chữa thường xuyên. Nền Cộng hòa của Hoa Kỳ cũng đang phải sửa, tại sao chúng ta không sửa mà chúng ta đòi thay nó. Thay bằng cái gì?”.

Câu hỏi của ông Bạt là đang nói về việc Quang A, Huệ Chi, Tương Lai, Lê Hiếu Đằng đang đòi thay bằng thể chế Mỹ !

Và ông Bạt cũng đưa ra khuyến nghị: “Nếu xã hội chúng ta kêu gọi sự phát huy, đi tìm kiếm giải pháp, sáng kiến, lối thoát mà không chỉ trích nữa thì tôi nghĩ rằng tất cả các cuộc hội thảo sẽ trở nên những cuộc hội thảo lịch sử. Bởi đấy là lúc xã hội ghé một vai gánh với Đảng và Chính phủ để chứng minh rằng xã hội chúng ta là một xã hội hòa bình, mọi người đều làm chính trị theo địa vị của mình chứ không đòi thay thế vị trí các nhà lãnh đạo”.

Với một trí thức có trình độ và tâm huyết như ông Nguyễn Trần Bạt thì những việc làm của các vị nhân sĩ, trí thức vừa qua như việc ký tuyên bố quyền dân sự, chính trị chỉ là những trò trẻ con, “góp sức” làm đất nước thêm bất ổn.

Tư Mã Thiên xin dẫn lại câu thơ của Nguyễn Du được ông Bạt nhắc đến trong bài phỏng vấn để gửi đến các vị “nhân sĩ, trí thức yêu nước”:

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Giật mình lại thấy thương mình xót xa.

Advertisements

Trả lời của Đông La

Nhà văn Đông La đã có trả lời về thư đề nghị tranh luận

Cái này nếu xảy ra chắc mất nhiều thời gian, tôi thì quan tâm nhiều thứ chứ không riêng chuyện HP, nếu có ai phản đối tôi về những ý trong bài tôi viết tôi sẽ trả lời thôi

Mong rằng ông Nguyễn Quang A và ông Tương Lai cũng có hồi âm.

Thư đề nghị tranh luận

from:    Tư Mã Thiên <thienchepsu@gmail.com>

to:        tnglai@gmail.com, donglasg@gmail.com

date:     Fri, Jun 7, 2013 at 9:12 AM

subject: Thư đề nghị tranh luận

 

Kính gửi:

– Ông Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS

– Ông Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS

– Ông Nguyễn Đức Bách, nguyên Phó Viện trưởng Viện CNXHKH của Trung tâm HVCT-HCQG Hồ Chí Minh, Viện Trưởng Viện KH Môi trường và XH

– Ông Nguyễn Huy Hùng, nhà văn Đông La

 

Tôi là blogger Tư Mã Thiên, xin đề nghị các ông một việc như sau:

Trước việc sửa đổi Hiến pháp đang có nhiều ý kiến khác nhau, nổi lên là các ý kiến của một bên là Kiến nghị 72 và gần đây là bản phản đối của những người ký kiến nghị 72 về Hiến pháp, còn một bên là các ý kiến phản đối Kiến nghị 72. Tư Mã Thiên nhận thấy thay vì mỗi bên nói theo quan điểm của mình thì nên có một cuộc tranh luận để đem đến nhận thức tốt nhất cho mọi người. Trên tinh thần đó, tôi đề nghị mở một cuộc tranh luận trực tuyến giữa bên Kiến nghị 72 đại diện là ông Nguyễn Quang A và ông Tương Lai và bên phản đối kiến nghị 72 đại diện là ông Nguyễn Đức Bách và ông Nguyễn Huy Hùng. Cuộc tranh luận chắc chắn sẽ không đi đến kết luận đúng sai nhưng sẽ giúp mọi người nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện. Việc tham gia tranh luận cho thấy tất cả chúng ta đều là những người cầu thị và thực sự có khát vọng dân chủ.

Quy tắc tranh luận dự kiến như sau: mở một một số chủ đề như Chủ nghĩa Mác-Lênin, Điều 4 Hiến pháp, tam quyền phân lập… Bên Kiến nghị 72 sẽ trình bày trước và bên phản đối đưa ra ý kiến đối đáp, mỗi bên được trình bày 02 lần về từng quan điểm cụ thể của phía bên kia. Địa điểm tranh luận hoặc trên blog Tư Mã Thiên hoặc một địa điểm bất kỳ do các vị lựa chọn.

Nếu quý vị nào đồng ý với đề nghị này xin hồi âm. Do không có địa chỉ email của ông Nguyễn Quang A và ông Nguyễn Đức Bách nên xin nhờ các ông, bà và các bạn blogger chuyển giúp tin nhắn.

Xin chào và chúc sức khỏe quý vị

Tư Mã Thiên

 

Đông La cho rằng Trần Mạnh Hảo đang trên đường… làm ếch !

Ngày 13/8/2012, trên blog của mình, nhà văn Đông La cho rằng Trần Mạnh Hảo đang trên đường làm ếch! Phần làm ếch liên quan chính trị, TMT không trích nữa, chỉ trích ý nhỏ Đông La chê thơ Trần Mạnh Hảo để người đọc thưởng thức.

 

Với TMH, rõ ràng TMH cũng rất giỏi “làm xiếc ngôn ngữ”, có điều có tạo được hiệu quả thẩm mỹ hay không, xin xem đoạn mà NTG đã trích trong bài “Tôi mang Hồ Gươm đi” sau đây:

 

Gió níu hoàng hôn xuống đáy tranh

Lá rụng trời xao động cổ thành

Đổi dòng, sông gửi hồn ngưng đọng

Mượn hồ trả kiếm lại trời xanh

 

Tôi muốn mang hồ đi trú đông

Mà không khiêng vác được sông Hồng

Mà không gói nổi heo may rét

Đành để hồ cho gió bấc trông

 

Sao Hồ Gươm biết tôi ra đây

Mà thương ôm bóng kẻ lưu đầy

Mà lau đôi mắt tôi bằng sóng

Mà cả trời kia xuống hết cây?”

 

Đây là bài tiêu biểu của TMH, còn được Phú Quang phổ nhạc. Đi sâu phân tích cụ thể về ngôn ngữ, như cách TMH vẫn hay làm với người khác, ta sẽ thấy bài thơ hoàn toàn rỗng về ý, TMH đúng là điển hình về việc “viết sai tiếng Việt”. Như câu “Lá rụng trời xao động cổ thành”. “Lá rụng đầy trời làm xao động cổ thành” thì mới có nghĩa chứ còn “Lá rụng trời” là lá rụng gì? Cái khó ở chỗ này là viết cho có nghĩa thì không thành thơ mà viết thành thơ thì lại không có nghĩa. Rồi bài thơ viết về Hồ Gươm sao lại có sông “đổi dòng” ở đó? Rồi nữa, muốn “mang hồ đi trú đông” sao lại “Mà không khiêng vác được sông Hồng”, ông Hảo muốn “mang hồ” đi cơ mà, sông Hồng thì có liên quan gì? Theo truyền thuyết, Hồ Gươm là nơi Lê Lợi sau khi dùng gươm thần đánh đuổi được giặc Minh đã “hoàn kiếm” lại cho Long Vương qua Thần Kim Quy, như vậy, câu “Mượn hồ trả kiếm lại trời xanh”, TMH đã “nói điêu”!

Thực ra do kém về ngôn ngữ, nói chung là kém tài, TMH đã dùng nhiều từ chủ yếu để ép vần nên rất gượng và làm những câu thơ vô nghĩa như trên.

Tư Mã Thiên: Đông La “tuyên chiến” nhưng chờ mãi không thấy Trần Mạnh Hảo “phản chiến”, kể cũng lạ với phong cách của nhà thơ này, dù là kẻ vô danh tiểu tốt đều được ông Hảo tích cực “bút chiến”, còn nổi tiếng như Đông La (lại là bạn của TMH) thì quá lạ, thôi thì viết ở đây có ai nhắc Trần Mạnh Hảo lên tiếng giùm. “Chú ếch” Trần Mạnh Hảo đang ngụp lặn ở cái giếng nào mà ko thấy cất tiếng ?

Đông La trao đổi Nguyễn Huệ Chi về việc so sánh Einsten và Lão Tử

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi mở đầu bài tham luận Tư duy phương Đông nhìn dưới ánh sáng học thuyết Einstein trong Hội thảo Khoa học “Vật lý học hiện đại – Văn hóa và phát triển” do Tạp chí Tia sáng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Ban sáng lập Trường Đại học Phan Châu Trinh thuộc UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức tại Hội An vào hai ngày 31-7-2005 và 1-8-2005, viết: “việc khám phá ra thuyết tương đối của nhà vật lý học Albert Einstein… ý nghĩa lớn lao của nó, theo tôi nghĩ, lại chính là sự tác động dây chuyền và có tính chất lâu dài trong suốt cả một thế kỷ, làm lung lay một phương pháp tư tưởng đã hằn sâu thành nếp, chiếm địa vị độc tôn trong nghiên cứu, có lúc gây bế tắc trì trệ cho nhiều ngành khoa học, không chỉ khoa học tự nhiên mà cả khoa học xã hội và nhân văn – phương pháp duy lý cổ điển [1] của phương Tây”.

Rồi ông kể về thời kỳ đầu ông: “thật may mắn” được “thầy Cao Xuân Huy” cho biết: “có một nhà vật lý người Đức là Einstein từ lâu đã tìm ra một học thuyết hết sức thâm viễn gọi là thuyết tương đối hẹp và rộng mà để hiểu được chúng, dù chỉ là một tí chút nào đấy, đòi hỏi chúng ta phải đảo lộn mọi logique thông thường”; rồi ông “ngạc nhiên và thích thú vô cùng. Cái mệnh đề “A không phải là phi A” bây giờ phải lộn ngược lại mới hiểu được Einstein sao? Con người ấy là ai mà ghê gớm đến thế?”.

Chủ nghĩa Duy lý cổ điển hay hiện đại, với nghĩa chung nhất, đều là học thuyết cho chân lý là kết quả của suy diễn lôgic trên nền tảng tri thức. Để đưa ra Thuyết Tương đối chứng minh sự có lý của những “hiện tượng vô lý” theo tri thức hiện có, Einstein vẫn dùng phương pháp suy luận lôgic; ông đã chỉ ra giới hạn và lầm lẫn của các giác quan khi nhận biết các hiện tượng vật lý, chứ ông không “làm lung lay phương pháp duy lý” nào cả. Ông viết: “Chân lý của một lý thuyết nằm trong trí óc chúng ta, không nằm trong mắt” (Nguyễn Xuân Xanh: Einstein. NXB TP Hồ Chí Minh, 2007, tr.100); rồi “Chúng ta theo thói quen đã… liên kết khái niệm nhất định với những kinh nghiệm của giác quan, đến nỗi chúng ta không ý thức được hố sâu ngăn cách… giữa thế giới của kinh nghiệm giác quan và thế giới các khái niệm và mệnh đề” (Sđd, tr.77). Một người làm việc bằng “trí óc” với các “khái niệm và mệnh đề” không thể không duy lý, còn ý “để hiểu được chúng (thuyết của Einstein – ĐL), dù chỉ là một tí chút nào đấy, đòi hỏi chúng ta phải đảo lộn mọi logique thông thường” cũng có phần có lý nếu coi “logique thông thường” là cơ học Newton. Nhưng thực chất cả GS. Cao Xuân Huy và Nguyễn Huệ Chi, khi đề cao tư tưởng cổ phương Đông và hạ thấp tư tưởng cổ phương Tây, không chỉ coi “logique thông thường” là cơ học Newton mà là tất cả.

Ông Nguyễn Huệ Chi đã hiểu sai lý thuyết của Einstein khi viết: “Cái mệnh đề “A không phải là phi A” bây giờ phải lộn ngược lại mới hiểu được Einstein sao?”. Trong hai định đề cơ bản để xây dựng thuyết Tương đối hẹp (Special theory of Relativity), Einstein viết:

1- Các định luật vật lý là như nhau trong mọi hệ quy chiếu quán tính, được áp dụng cho tất cả các hiện tượng vật lý (kể cả sóng điện từ).

2- Vận tốc ánh sáng trong chân không là hằng số, không phụ thuộc chuyển động của nguồn sáng.

Như vậy, nếu cho thuyết của Einstein là A, thuyết củaNewtonlà phi A, thì để “hiểu được Einstein”, người ta không phải “lộn ngược logique” nào cả, mà cần phải hiểu những hiện tượng vật lý mà mắt ta nhìn thấy không đúng như ta cảm nhận!

Có rất nhiều điều ông Nguyễn Huệ Chi chưa hiểu và lầm lẫn qua câu chuyện “ly kỳ” trên đây. Nếu là người hiểu biết thì ngày ấy ông đã không phải “hết sức kinh dị” và bây giờ cũng không mất công kể lại làm gì, nhất là lại trong một cuộc “Hội thảo khoa học”!

Nếu hiểu vật lý thì sẽ thấy trong tình trạng trên gió lùa không đáng kể, xe coi như chạy thẳng với vận tốc đều, không gian trong xe có thể được coi như một hệ quy chiếu quán tính, mà theo Nguyên lý Quán tính: “Nếu một vật không chịu một lực nào thì nó sẽ đứng yên hoặc tiếp tục chuyển động không đổi”. Tương tự như ta trong xe lửa hoặc trên máy bay (lúc không rung, không xóc, không tăng tốc), thì việc đi lại, rót nước vào cốc và mọi chuyển động sẽ xảy ra y như lúc xe lửa, máy bay đứng yên…

Khi ca ngợi “học thuyết tương đối của Einstein rọi sáng cho cả một thời đại mới: thời đại “giải lý tính” (dérationnel) của nhận thức khoa học” e rằng ông Nguyễn Huệ Chi đã có những suy diễn phản khoa học và đã phản chính Einstein!

Thực ra tôi biết cả GS. Cao Xuân Huy và ông Nguyễn Huệ Chi đều nhầm lẫn. Với tinh thần trên, nếu các ông nói về Cơ học lượng tử thì hợp lý hơn. Có điều, bản chất của Cơ học lượng tử lại ngược với Thuyết Tương đối. Cơ học Tương đối quả có những điều kỳ lạ nếu so với Cơ học Newton, nhưng nó vẫn là cơ học của logique, của xác định, của tất yếu; còn Cơ học lượng tử là cơ học của phi logique, của bất định, của ngẫu nhiên. Chính Einstein đã phản bác điều này với câu nói nổi tiếng: “Chúa không chơi trò xúc xắc”, bởi ông cho rằng thế giới vi mô không phải bất định mà chính khả năng của con người còn chưa đủ trình độ để xác định nó. Điều này cũng chính là nội dung của cuộc tranh cãi vĩ đại trong lịch sử khoa học giữa Einstein và Bohr. Tiếc rằng cho đến nay người ta đã xác nhận trong chuyện này Einstein sai, và Thuyết Tương đối tổng quát của ông vẫn chỉ là thuyết riêng phần, nó chỉ diễn tả được thế giới vĩ mô còn với vi mô thì không. Khi ghép với Cơ học lượng tử, nó không tương thích, giống như trộn dầu vào nước vậy.

Vì vậy, việc dùng khái niệm “giải lý tính” như trên là sai vì các nhà vật lý lại “giải lý tính” tức không quan tâm đến quy luật vật lý và các phương pháp nghiên cứu thì còn làm cái gì? Chẳng lẽ họ lại dùng phương pháp của Tôn Ngộ Không chăng? Thật lạ, bàn về Einstein mà ông Nguyễn Huệ Chi lại có những tư tưởng siêu hình như sau:

Do không hiểu vật lý, kiến thức Nguyễn Huệ Chi lượm lặt ở trên cũng có những mâu thuẫn, khúc trên ông viết “vũ trụ vốn bắt nguồn từ một “khối vật chất Item”, “khối lượng bằng vô cùng”; đoạn sau ông lại viết: “vũ trụ ban đầu có thể trống rỗng không chứa một vật chất hấp dẫn nào cả”. Ông Nguyễn Huệ Chi nên nhớ rằng, nếu “khối lượng bằng vô cùng” đồng nghĩa với “vật chất hấp dẫn” có tỷ trọng bằng vô cùng.

Như vậy, Nguyễn Huệ Chi lại lẫn lộn. Lúc đầu, Einstein quan niệm vũ trụ là tĩnh, nhưng nghiệm mô tả vũ trụ rút ra từ phương trình hấp dẫn của ông lại giãn nở, ông “chống đỡ” bằng cách đưa vào phương trình một hằng số vũ trụ (cosmic constant) để “kéo lại” cho cân bằng. Rồi sau đó, khi người ta xác định được vũ trụ không tĩnh như ông nghĩ, ông đã quẳng cái hằng số mà ông cho là “cái ngu ngốc lớn nhất của đời tôi” (biggest blunder) ấy đi. Chứ không phải nghĩ ngược như Nguyễn Huệ Chi viết, thấy người ta phát hiện vũ trụ giãn nở “buộc ông phải đưa thêm vào hằng số vũ trụ”, nghĩa là Einstein thấy sai rồi mới làm sai, như một hành động ngớ ngẩn! Và thật là nhùng nhằng khi Nguyễn Huệ Chi đã lấy cái sai của Einstein so sánh với “phản” của Lão Tử, rồi cho lý thuyết Einstein đồng nhất với tư tưởng của Lão Tử!

Tư Mã Thiên: tranh luận của nhà văn Đông La với Nguyễn Huệ Chi về học thuật. Bài rất dài của nhà văn Đông La, VỀ MỘT SỰ SO SÁNH KHIÊN CƯỠNG GIỮA EINSTEIN VÀ LÃO TỬ (TRAO ĐỔI VỚI NGUYỄN HUỆ CHI)

Nguyễn Đình Chú tranh luận về học thuật với Nguyễn Huệ Chi

Tư Mã Thiên xin giới thiệu hai bài viết của TS Mai Quốc Liên và GS Nguyễn Đình Chú về trình độ học thuật của GS Nguyễn Huệ Chi. Tư Mã Thiên được biết bài viết “Vu cáo chính trị, mập mờ học thuật” của TS Mai Quốc Liên đã đăng trên tạp chí Hồn Việt, nhưng do không có điều kiện nên chỉ có được một phần của bài này trên blog của nhà văn Nam Trân, bạn đọc nào có nguyên bản xin gửi cho Tư Mã Thiên. Còn bài viết của GS Nguyễn Đình Chú thì được đăng trên Talawas (báo lề trái). Với hai bài viết chính thống này (chỉ thuần về học thuật), hy vọng GS Nguyễn Huệ Chi sẽ có hồi âm.

Cuộc đối đáp chung quanh công trình Thơ văn Lý – Trần

Nguyễn Đình Chú

Talawas 22.10.2008

Ðúng là trong bài viết “Nguyễn Ðức Vân: một người xứ Nghệ” đăng trên Tạp chí Văn hoá Nghệ An số 124 ra ngày 10 tháng 5 năm 2008 vừa qua tôi đã nói đến công phu sưu tầm dịch thuật Thơ văn Lý – Trần của nhạc phụ tôi cùng với bác Ðào Phương Bình mà trong Lời mở đầu sách Thơ văn Lý – Trần tập I xuất bản năm 1977 [1] , ông Huệ Chi với tư cách trưởng nhóm kiêm chủ biên đã ghi rõ:

“Hơn 10 năm qua, kể từ sau ngày thành lập, Viện Văn học đã để ý tìm hiểu văn học của thời đại Lý – Trần. Năm 1960, tổ Hán Nôm của Viện được giao nhiệm vụ Sưu tầm và phiên dịch ra tiếng Việt toàn bộ thơ văn từ đời Hồ trở về trước trong các sách vở chữ Hán còn lưu trữ tại các thư viện và trong một số tài liệu bị ký còn nằm rải rác ở các đình chùa miền Bắc. Các đồng chí Nguyễn Ðức Vân, Ðào Phương Bình, cán bộ trong tổ đã trực tiếp tiến hành công việc đó. Nhờ nỗ lực tìm tòi nghiên cứu, lại có sự giúp đỡ tận tình của các anh em khác trong tổ nên công việc đã tiến hành tương đối thuận lợi, mỗi năm khối lượng thơ văn tập hợp được phong phú dần. Ðến năm 1965 thì việc sưu tầm cũng như phiên dịch bước đầu đã hoàn thành” [2] .

Sự thật đã được ghi trên giấy trắng mực đen là thế. Nhưng sau ngày cụ Vân qua đời (1974), từ năm 1977, đến năm 1989, bộ sách Thơ văn Lý – Trần 3 tập lần lượt ra đời, gồm 2.421 trang khổ lớn có 914 đơn vị văn bản lớn bé, phần của cụ Vân chỉ có 34,5 đơn vị. (Tập I: 9,5/136. Tập II, quyển thượng: 06/363. Tập III: 19/415). Trong ba tập, hai tập I và III ra trước thì còn có tên cụ Vân trong nhóm biên soạn. Nhưng đến tập II (quyển thượng) lúc cụ Vân đã qua đời 15 năm thì không còn tên cụ Vân trong nhóm biên soạn [3] .

Trong bài viết “Nguyễn Ðức Vân: một người xứ Nghệ”, tôi cũng nói đến thái độ của hai người con trai của cụ là nhà văn Nguyễn Ðức Ðàn và nhà thơ Anh Ngọc đều có biết chuyện nhưng chỉ nhếch mép cười khẩy và nói với nhau: “Thôi, vua nước Sở mất cung, người nước Sở được”. Còn tôi, con rể có điều kiện biết chuyện nhiều hơn thì cũng chịu im mặc dù đã bị một vài người bạn chê trách, thậm chí như là mắng rằng hèn, nhát. Lần này, viết bài về cụ, tôi cũng chỉ nêu hiện tượng như thế, chứ không đụng đến ai đó đã làm cái điều không hay này. Mà thực ra, những gì tôi đã viết ra lần này thì cách đây 14 năm, nhân dịp 20 năm ngày giỗ cụ, trong bài “Nguyễn Ðức Vân: nhà Hán học” đăng trên báo Người Giáo viên Nhân dân (1994) tôi đã nói và cũng không đụng đến tên ai. Ngay lần này, gửi bài cho Tạp chí Văn hoá Nghệ An, vốn không muốn làm to chuyện, vốn cứ nghĩ dù mình nói đúng sự thật nhưng sẽ xấu mặt người thì mình cũng chẳng sướng gì, nên tôi đã vội yêu cầu toà soạn tạm ngưng đăng để tôi “hạ giọng” hơn [4] . Tôi cũng đã nói với toà soạn tạp chí là tôi không muốn ai đó tham gia vào chuyện này nữa. Nhất là, cùng một dịp với bài viết của tôi, còn có bài “Vu khống chính trị mập mờ học thuật” của ông Mai Quốc Liêu đăng trên Hồn Việt hai số liền [5] , trong đó có chuyện về Thơ văn Lý – Trần của cụ Vân, nên tôi lại càng muốn ngừng mọi chuyện lại vì sợ ai đó cho là có sự “hợp đồng tác chiến”.

Nhưng không ngờ, tôi đã nhận được hai cú điện thoại của ông Huệ Chi và giữa hai bên đã có sự đối đáp với nhau. Và rồi tôi cũng nghĩ là mọi chuyện sẽ dừng lại ở hai cuộc điện thoại này mà thôi.

Nhưng lại không ngờ, tôi được nghe nói lại là ông Huệ Chi đã nói với một vài người rằng giữa ông và tôi đã có sự ổn thoả với nhau. Thậm chí, lại còn nói với vài người rằng: ông Chú đã xin lỗi mình (?!). Nghe thế, tôi đã hỏi lại xem sao thì một người nói em chẳng nghe gì cả, một người khác nói là có trực tiếp nghe thì chỉ nói là giữa hai bên đã ổn thoả với nhau, chứ không có chuyện là tôi xin lỗi ông Huệ Chi. Do đó, tôi lại coi như là xong chuyện.

Nhưng rồi lại rất không ngờ là ông Huệ Chi, trong bài viết “Những năm tháng với Phong Lê” (Hà Nội ngày 9 tháng 6 năm 2008) đăng trên talawas [6] nói về tình bạn sâu nặng giữa hai ông, nói về cuộc đời và sự nghiệp sáng giá của mình, cũng lại nói chuyện làm sách Thơ văn Lý – Trần mà ngay khi vừa ra mắt tập I đã được người trong nước, ngoài nước kể cả người nước ngoài “viết những lời khích lệ” làm ông “ấm lòng”. Trong đó, có đoạn liên quan đến cụ Vân và bác Ðào Phương Bình như sau:

“Rồi đến cuối năm 1968, khi lớp Ðại học Hán học kết thúc, tổ văn học cổ cận đại được bổ sung thêm dăm bảy biên chế là sinh viên mới tốt nghiệp, Viện quyết định thành lập nhóm Văn học Lý – Trần để làm tiếp công việc của hai cụ Nguyễn Ðức Vân và Ðào Phương Bình làm từ năm 1960 (hai cụ là những bậc Hán học lão thành đã khai phá một bước đi đầu rất quan trọng. Tuy thế, bản dịch các cụ để lại cũng chỉ dịch xuôi mà rất ít dịch thơ, chép nguyên từ một bản mà không khảo chứng và bỏ hẳn phần thơ Phật giáo không làm, dịch văn bia mới có vài bài, hẳn vì thế Viện chưa in được phải bắt chúng tôi tiếp tục…”

Rõ ràng là tôi đã muốn để chuyện rơi vào im lặng. Nhưng ông Huệ Chi đã không cùng im lặng nên buộc tôi phải nói thêm với ông và cũng là với bạn đọc trong và ngoài nước. Nếu không tôi sẽ bị coi là người không biết điều, cố vơ quàng vơ xiên về cho ông bố vợ.

Câu chuyện nói thêm đây không gì khác mà chỉ là tường thuật lại nội dung hai cuộc đối đáp qua điện thoại giữa ông Huệ Chi và tôi mà trên đã nói. Nội dung hai cuộc đối đáp này không được ghi âm. Nhưng với lòng tự trọng tôi bảo đảm rằng nói đúng với những gì đã có. Nếu ông Huệ Chi thấy chỗ không đúng, xin ông cứ nói lại. Có điều nói lại thì cứ nói những vẫn phải trả lời những vấn đề mà tôi nêu lên trong cuộc đối đáp với ông để bạn đọc xa gần cùng rõ thực hư thế nào. Ở đây, cùng với lời đối đáp, cố gắng ghi theo nguyên trạng nhưng để bạn đọc, kế cả ông Huệ Chi hiểu rõ vấn đề, tôi sẽ có thêm phần chú giải. Sau đây là nội dung hai cuộc đối đáp và viết tắt.

Cuộc thứ nhất

 

Nguyễn Huệ Chi: A lô! Anh Chú à! Tôi Huệ Chi đây mà.

Nguyễn Đình Chú: Ông Huệ Chi à.

NHC: Anh Chú ơi! Anh là người từ trước tới nay tôi vẫn quý mọi mặt, vừa rồi đọc bài của anh viết về cụ Vân, tôi càng quý thêm cụ và cũng quý cái tình của anh đối với cụ. Nhưng tôi buồn là trước khi viết, anh không trao đổi với tôi. Sự thật chẳng có gì là khuất tất ở đây. Bởi cụ Vân làm ít, chỉ dịch nghĩa mà không dịch thơ, cũng không dịch văn thơ Phật giáo, không khảo đính.

NÐC: Thôi được rồi, thái độ của tôi là thực sự cầu thị. Nếu cần tôi sẽ nói lại. Nhưng để thực sự cầu thị, tôi đề nghị ông trả lời tôi câu hỏi này: Tại sao trong “Lời nói đầu” sách Thơ văn Lý – Trần tập I in khi cụ Vân mới qua đời 3 năm với tư cách trưởng nhóm và chủ biên, ông đã ghi: “… Ðến năm 1965 [7] thì việc sưu tầm cũng như biên dịch do hai đồng chí Nguyễn Ðức Vân và Ðào Phương Bình trực tiếp tiến hành bước đầu đã hoàn thành” mà trong bộ sách Thơ văn Lý – Trần 3 tập, cụ Vân chỉ còn 34,5 đơn vị văn bản?

NHC: (Im lặng)

NÐC: Ông nói cụ Vân chỉ dịch nghĩa mà không dịch thơ thì ông biết đấy, với thơ cổ, cái khó nhất là dịch nghĩa, rồi mới đến phần dịch thơ. Không dịch được nghĩa thì đừng nói chuyện dịch thơ. Có người không biết chữ Hán mà vẫn dịch được thơ cổ sau khi đã có người dịch nghĩa cho. Trường hợp nhà thơ Phùng Quán với bọn tôi năm 1956 là thế đấy. Hiện tượng này không hiếm.

NHC: (Im lặng)

NÐC: Chuyện thứ hai là tôi yêu cầu ông hãy cung cấp đầy đủ văn bản Thơ văn Lý – Trần mà cụ Vân đã dịch do ông bảo quản để tôi xem sự thật là thế nào?

NHC: Hồi đó, ngoài phần việc của tôi, tôi còn đưa văn bản cho các anh Trần Lê Sáng, Trần Nghĩa, bây giờ cũng khó mà lấy lại.

NÐC: Tôi chả biết ông đưa cho ai, chỉ biết hỏi ông là trưởng ban cổ cận và là trưởng nhóm Văn thơ Lý – Trần.

NHC: (Im lặng)

NÐC: Chuyện tiếp theo là ông hãy trả lời tôi câu hỏi này: Tại sao năm 1977, trong “Lời nói đầu” sách Thơ văn Lý – Trần tập I, ông đã viết: Công trình “sưu tầm cũng như dịch thuật” các đồng chí Nguyễn Ðức Vân và Ðào Phương Bình trực tiếp tiến hành đến năm 1965 đã bước đầu hoàn thành, mà đến năm 2007 vừa qua khi cụ Vân đã qua đời 33 năm trong đề cương làm sách Tuyển tập Thơ văn Lý – Trần ở Nhà xuất bản Hà Nội, ông lại viết là: “Việc sưu tầm nghiên cứu được đặt ra từ năm 1968”? [8]

NHC: Tôi sơ suất – xin lỗi.

NÐC: Huệ Chi mà cũng sơ suất thế à?

NHC: Ðược rồi, rồi đây tôi sẽ đưa tên các cụ lên đầu.

NÐC: Ông không đọc thư tôi gửi ông Tổng Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội về chuyện này à? [9]

NHC: Chưa.

NÐC: Ðiều thứ 4 tôi phải nói thẳng với ông là trong bài viết tranh cãi giữa ông với ông Nguyễn Văn Hoàn từ chuyện về bác Trần Thanh Mại, ông bác ý kiến ông Hoàn cho là trước khi có lớp Ðại học Hán văn ở Viện Văn học, trong số cán bộ trẻ chỉ có ông Kiều Thu Hoạch là người đọc được cổ văn. Ông cãi lại mà nhận mình đã biết. Ấy là ông nói với ai, chứ với tôi là không xong rồi. Bởi lẽ: Ông nói là ông đã học Trung văn 3 năm ở khoa Văn, Ðại học Tổng hợp thì tôi xin nói rằng: Tôi biết 3 năm không chuyên đó, các ông học được tới đâu, và cho dù có qua chuyên Trung 4 năm, 5 năm trong nước hay ở Trung Quốc thì vẫn chưa thể dịch được cổ văn đâu. Ông còn nói là ở thời gian đó (quãng 1960 – 1965) trong khi làm sách về Nguyễn Trãi, ông đã tìm đọc Ðại Việt sử ký toàn thư và Việt sử thông giám cương mục những đoạn nói về Nguyễn Trãi để đối chiếu. Ừ thì tôi cứ cho là ông đọc được các thứ đó, nhưng đó cũng chỉ là mấy dòng. Vả chăng, ông còn phải biết rằng trong cổ văn, giữa sử bút và văn bút vẫn có khoảng cách khá rõ. Với sử bút, cú pháp và từ vựng nói chung là đơn giản, dễ đọc chứ với văn bút, cổ văn thì không dễ gì dịch đâu.

NHC: (Im lặng)

NÐC: Thôi! Chúng ta tạm ngừng ở đây đã nhé.

Cuộc thứ hai (Cách một ngày sau)

NHC: Alô! anh Chú à.

NÐC: Vâng, tôi đây!

NHC: Hôm qua, tôi đã đến Viện Văn lục lạo những văn bản của cụ Vân. Nhưng cô Lan và cô Yến nói tất cả đã phôtô đưa anh rồi.

NÐC: Ðúng thế! Trước khi biết bài về cụ Vân, tôi và cả nhà tôi đã đến xin phôtô tất cả những gì mà cụ Vân đã dịch ở Viện để lưu niệm cho con cháu lâu dài thì tình hình là thế này. Những gì do thư viện bảo quản thì cơ bản còn đủ cả. Còn phần do Ban cổ cận của ông bảo quản thì chỉ còn lại rất ít [10] . Ðặc biệt, trong đó có một mẩu cụ Vân đã dịch nghĩa, dịch thơ và khảo đính mà ông đã pha chế thì chẳng ra gì, thậm chí còn là hao hụt, rồi đề thêm tên mình cùng cụ Vân. [11]

NHC: Hồi bấy giờ, cụ Nam Trân cũng làm thế.

NÐC: Tôi chả biết cụ Nam Trân có làm hay không, chỉ biết ông làm thế.

NHC: (im lặng rồi nói) Còn đề cương ở Nhà xuất bản Hà Nội thì không phải tôi viết mà là người khác viết.

NÐC: Tôi chả biết ai viết, chỉ biết là trong văn bản mà tôi đang có trong tay ghi rõ: “Chủ nhiệm đề tài: Họ và tên: Nguyễn Huệ Chi”.

NHC: Im lặng.

NÐC: Thôi! Ta lại ngừng ở đây nhé.

 

Bạn đọc kính mến!

Như thế là tôi đã đưa đến quý vị một câu chuyện buồn mà với tôi cũng chẳng vui vì nó là chuyện nhếch nhác, lẩm cẩm giữa trần gian. Như quý vị biết đấy, tôi đã muốn để nó rơi vào im lặng cho rồi. Nhưng rồi lại phải đành lòng, cầm lòng vậy mà phải nói thêm như vậy. Không biết quý vị sẽ nghĩ thế nào về hiện tượng này. Chỉ mong quý vị trong suy nghĩ vẫn giữ cho sự công bằng. Công bằng với người bị mất công bằng, nhưng cũng công bằng với cả người làm mất công bằng. Cuộc đời cần sự công bằng, nhưng cũng cần sự khoan dung. Hãy dành chỗ cho người ta nghĩ lại, phải không thưa quý vị.

 

Hà Nội tiến tới ngày rằm tháng bảy năm Mậu Tý.

Mai Quốc Liên tranh luận về học thuật với Nguyễn Huệ Chi

Tư Mã Thiên xin giới thiệu hai bài viết của TS Mai Quốc Liên và GS Nguyễn Đình Chú về trình độ học thuật của GS Nguyễn Huệ Chi. Tư Mã Thiên được biết bài viết “Vu cáo chính trị, mập mờ học thuật” của TS Mai Quốc Liên đã đăng trên tạp chí Hồn Việt, nhưng do không có điều kiện nên chỉ có được một phần của bài này trên blog của nhà văn Nam Trân, bạn đọc nào có nguyên bản xin gửi cho Tư Mã Thiên. Còn bài viết của GS Nguyễn Đình Chú thì được đăng trên Talawas (báo lề trái). Với hai bài viết chính thống này (chỉ thuần về học thuật), hy vọng GS Nguyễn Huệ Chi sẽ có hồi âm.

 

Vu cáo chính trị – mập mờ học thuật

Mai Quốc Liên

 

Từ một trình độ Hán học uyên thâm như thế, ông Nguyễn Huệ Chi (NHC) đi vào làm Thơ văn Lý – Trần. Nói cho đúng, đây là một tập hợp văn bản công phu với công sức của nhiều người, nhưng lại in chữ giản thể. Ở đây không thể nói nhiều chuyện chung quanh cuốn sách này (Chẳng hạn, bản thảo do công lao to lớn của các cụ lão nho: Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình, có cả Nam Trân làm; công lao của “ông đồ Hỉ” (tên gọi thân mật GS Đỗ Văn Hỉ, một nhà Hán Nôm học cự phách) trong việc dịch tất cả những văn bản khó trong ấy, nhất là các văn bia cổ…, và đến chết “ông đồ Hỉ” vẫn uất hận khôn nguôi trong việc bị đè nén… Và thật sự thì cụ Nghè Đinh Văn Chấp, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Ngô Tất Tố… đã dịch phân nửa văn bản Lý – Trần rồi. Và chú thích, dịch… nhất là những vấn đề liên quan đến Phật học còn phải bàn. Nhưng đó không phải là chủ đích của bài báo này). Trong cuốn Thơ văn Lý – Trần này, lẽ ra ông NHC chỉ là người biên soạn, biên tập…, nhưng đến tập II, quyển thượng thì ông lên làm chủ biên… Và quyển hạ, tập II, đến nay sau 40 năm từ khi in tập I, vẫn chưa ra. Thật oái ăm! Giờ tôi chỉ xin nói những chuyện “hai năm rõ mười” thôi.

Năm 1969 ở Sài Gòn, Tu thư Đại học Vạn Hạnh in cuốn (Tuệ Trung Thượng sĩ) Ngữ lục do Trúc Thiên dịch. Khi biên soạn Thơ văn Lý – Trần, ông NHC ghi “trong khi dịch thơ văn Trần Tung (tức Tuệ Trung Thượng Sĩ), chúng tôi có tham khảo bản dịch của Trúc Thiên, do Tu thư Đại học Vạn Hạnh ấn hành, 1969” (Thơ văn Lý – Trần, t.II, quyển thượng, H., 1989, tr. 225).

Nhưng “tham khảo” như thế nào? Thôi không nói đến phần “tham khảo” văn xuôi, vì phải mất công đối chứng, chỉ nói về thơ thôi. Đối chiếu bản dịch thơ của ông NHC và của Trúc Thiên thì thấy: ngoài việc lấy lại vần, lấy chữ, lấy nguyên si một số câu; ông NHC “xuất nhập” một số ý, “biên tập” lại để thành bài của mình và rồi ký luôn tên mình, xóa mất tên Trúc Thiên vốn là người đầu tiên dịch bài thơ ấy.

Trường hợp các bài Thế thái hư huyễn – Họa huyện lệnh, Thị chúng, Tặng Thuần Nhất pháp sư, Thị đồ, Chí đạo vô nan… đều là như vậy.

Bài Thế thái hư huyễn, hai câu đầu ông NHC lấy nguyên si (chỉ khác Trúc Thiên dịch chữ phó là gởi, ông để nguyên là phó):

– Vân cẩu đổi thay lắm vẻ mà

Mơ màng gởi trọn giấcNamkha.

(Trúc Thiên dịch, Ngữ Lục, Sđd, tr.123).

– Vân cẩu đổi thay lắm vẻ mà

Mơ màng phó trọn giấcNamkha.

(NHC dịch, Thơ văn Lý -Trần, t.II, quyển thượng, tr.250)

Hai câu cuối:

– Thấy chăng đàn én lầu Vương Tạ

Nay hết vàng son lạc vạn nhà.

(Ngữ Lục, Sđd)

– Hãy xem đàn én lầu Vương Tạ

Nay xuống làm thân với mọi nhà.

(Thơ văn Lý – Trần, Sđd, tr.250)

Theo ý tôi, câu dịch Trúc Thiên sáng tạo hơn, hay hơn, nhất là chữ vàng son, chữ lạc thật đắt, khi nhớ câu thơ Đường về Vương, Tạ của Lưu Vũ Tích: Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến,/ Phi nhập tầm thường bách tính gia. Dịch thơ không phải dịch chữ, mà dịch cái hồn chữ. Ông NHC dựa vào câu thơ dịch của Trúc Thiên, sửa vài chữ cho là sát nghĩa; còn 4 câu giữa thì cũng chỉ xoay đi đổi lại mà thôi.

Bài Họa huyện lệnh, bản dịch của Trúc Thiên mở đầu bằng hai câu:

Đã từng nối gót Tứ Minh Cuồng

Ưng mến Y Vương với Quỉ Vương.

thì bản NHC là như sau:

Từng phen nối gót Tứ Minh Cuồng

Nào phục Y Vương với Quỉ Vương.

Dựa vào vần cũ, bài cũ, “xuất nhập” một hai chữ rồi ký tên mình. Bài Tặng Thuần Nhất pháp sư, bản dịch của Trúc Thiên mở đầu: Pháp thân tịch diệt sắc thân còn; bài Thị chúng mở đầu: Thôi tìm núi Thiếu với khe Tào, bản NHC cũng hoàn toàn là như vậy (trong khi Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch vần khác: Thôi tìm Thiếu thất với Tào khê); bài Đại đạo chí nan, Trúc Thiên dịch: Quay đầu, vặn óc luống bần thần, thì ông NHC đảo lại chút đỉnh: “Bần thần, vặn óc với quay đầu”, tính ra chỉ khác mỗi chữ với và luống.

Thế nào là dịch lại, là tham khảo? Trong việc dịch thơ, tuy cùng nguyên tác, các bản dịch có thể khác nhau xa, tùy từng người dịch trong quá trình chuyển tải vần điệu, chất thơ, ý tại ngôn ngoại… Đằng này là lấy của người, biên tập, chữa một số chỗ chứ đâu phải dịch?

Trường hợp này cũng xảy ra giữa ông NHC và bản dịch Ngục trung nhật ký của Nam Trân (1907-1967). Nam Trân từng dạy ông NHC ở Lớp Đại học Hán học (1965-1969) về thơ Đường – Tống, vừa là người lãnh đạo ông (cụ Cao Xuân Huy, Tổ trưởng, ông Nam Trân, Nguyễn Văn Hoàn, Phó tổ trưởng, ông NHC tổ viên). Lại là bậc tiền bối (Nam Trân sinh 1907, NHC 1938). Nam Trân Nguyễn Học Sĩ đậu Tú tài bản xứ tiếng Pháp thời Tây; nghiên cứu văn học Tây phương (cổ Hy – La); Hán học thì dịch thơ Đường – Tống, Kinh Thi, cổ văn… chữ tốt đến nhân sĩ Trung Quốc cũng vui lòng xin chữ và in thơ chữ Hán của ông trên tờ Thi san của Hội Nhà văn Trung Quốc. Ông lại là tác giả Huế – Đẹp và Thơ mà Hoài Thanh nhận rằng thơ ông “biệt riêng thành một lối” (Thi nhân ViệtNam). Nam Trân mất (1967), hơn chục năm sau, ông NHC đem ra “duyệt” lại bản dịch của thầy và bậc tiền bối đó. Ngoài mấy bản dịch mới hoàn toàn, còn thì, ông đã sửa chữa: 8 bài sửa 1 từ, 4 bài sửa 2 từ, 1 bài sửa 3 từ, 3 bài sửa 4 từ, 1 bài sửa 3 từ, 1 bài sửa 4 từ, 1 bài sửa 5 từ, 15 bài sửa từ 6 từ trong 3 câu trở lên. Chỉ sửa chữ, không sửa vần! Sửa có 1 chữ cũng ký tên mình vào! Thí dụ thì vô khối. Bài Dạ túc Long Tuyền, 3 câu trên gần như lấy lại nguyên văn, đến câu 4, Nam Trân dịch:

Mừng sáng nghe oanh hót xóm gần

(Cách lân hân thính hiểu oanh đề: Mừng nghe chim oanh bên láng giềng báo sáng) (Nhật ký trong tù, 1960, tr.66).

Ông NHC bèn chữa lại:

Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần

rồi ký tên mình bên cạnh. Đúng là “lợn lành chữa thành lợn què”! Câu thơ dịch của Nam Trân đã là tối ưu so với câu thơ nguyên tác, xuôi thuận, đẹp về tiếng Việt. Còn oanh sớm là oanh gì? Có oanh chiều, oanh tối không? HIỂU là sáng sớm, ở đây nó là trạng ngữ của oanh, con chim oanh hót vào buổi sáng sớm, tức là nó báo sáng, chứ oanh sớm thì tiếng Việt chẳng ai nói thế, viết thế cả. Bài Chúc than (Hàng cháo), ông Nam Trân: quán rượu, ông NHC chữa tiệm rượu, ông Nam Trân: chỉ có cháo hoa…, ông NHC: nào món cháo hoa… thế là đứng tên! Bài thơ tả một quán nghèo trên đường, quán chỉ bán cháo hoa, muối trắng. Vậy cách dịch chỉ có thật đúng cái thần của câu thơ, còn nào món là có ý tán dương món ăn của quán ư!?

Tệ nhất là có bản chỉ chữa 1 chữ, các vị cũng đề tên mình vào bản dịch cũ. Mà chữa thế nào: Nam Trân: sách xưa – sách mới (cựu quyển, tân thư) nay sửa quyển xưa – sách mới (cho đúng nguyên văn, dịch theo chữ!), rồi hân hạnh đứng tên!

Hỡi ôi! Đúng là: “Thế sự người no ổi tiết bảy. Nhân tình ai ủ cúc mồng mười” (Nguyễn Trãi). Giá như ông Nam Trân còn sống chả biết ông nghĩ sao! Những học trò mà trước khi chết, ông than tiếc: “Đào lý phương viên thắng hủy đa. Tiểu tâm bồi ủng nhị niên qua. Như kim vô lực truyền xuân sắc. Trường hướng thu phong thán nhất ta” (Tạm dịch: Cỏ lạ đào thơm mơn mởn tươi. Đem lòng vun xới mấy năm trời. Đến nay không sức truyền xuân sắc. Nhìn gió thu sang, một thở dài).  Những học trò ấy đã vượt qua đầu ông, bất chấp tấm lòng và con chữ mà ông “bồi ủng”!

Kể ra hơi tàn nhẫn. Mà không chỉ có Nam Trân. Đến cụ Nguyễn Sĩ Lâm, Viện trưởng Viện Đông Y, một nhà Hán học cự phách, cẩn thận, chắc chắn, sâu rộng một tâm hồn thơ…, thầy chữ Hán chúng tôi ở lớp Hán – Nôm Sau Đại học (1972-1975) cũng bị NHC cướp chữ! Cả bài của cụ Nguyễn, 12 câu dịch, ông NHC thực ra chỉ chữa có 2 chữ: Vô ngần thành dữ dằn. Cụ Nguyễn dịch: “Giả bộ ác vô ngần” (Nguyên văn: Giả trang ác ngân ngân, nghĩa là: Lại giả bộ ác hầm hầm – Nhật ký trong tù, 1991, tr.26). Ông NHC chữa thành: Vờ làm bộ dữ dằn, chắc gì đã diễn đạt đúng nguyên tác: ngân ngân, ý hung ác, tàn nhẫn (Nhật ký trong tù, tr.27). Rõ ràng ác hầm hầm và dữ dằn mức độ khác nhau, chất lượng khác nhau. Nhưng thôi, chữa là chuyện của ông, nhưng ông lại ký tên mà là ký trước tên như là người dịch chính vào bài của cụ Nguyễn là cớ làm sao?

Nói cho đúng, NHC không chỉ chữa và ký tên chung. Ông cũng có dịch một số bài mới. Thà là như thế! Hay, dở cũng là bản dịch của mình. Văn chương “Tự kỷ văn chương, tha nhân thê thiếp” (Văn mình, vợ người). Nhân nói đến chuyện ứng xử với thầy cũ, tưởng cũng nên nhắc qua chuyện ông NHC và cụ Cao Xuân Huy. Ông lôi trong đống giấy tờ cũ ở nhà con rể cụ Cao Xuân Huy, soạn ra cuốn “Chủ toàn và chủ biệt – hai ngã rẽ của triết học Đông Tây”, đem in bên Tây, rồi đem về đổi tên thành “Tư tưởng phương Đông – gợi những điểm nhìn tham chiếu” (1995), rồi dựa vào uy tín cụ Cao Xuân Huy, cuốn sách đem về Giải Thưởng Hồ Chí Minh cho Cụ. Người ngoài không biết, tưởng thế là học trò “trả nghĩa” thầy. Thực ra, động cơ lại khác. NHC lợi dụng các bài mà Cụ Huy chủ yếu viết từ 1956-1957. Cụ Cao Xuân Huy là người thấm nhuần Lão – Trang, biết rằng “Danh khả danh phi thường danh” (Cái danh có thể gọi được là danh là cái danh không hằng thường – Lão Tử). Cụ đâu có cần “danh”, cần giải thưởng! Cái hay cái lớn là không màng giải, không màng danh, lấy điều không tham làm giải: “bất tham vi vinh”. Chứ đi nhận giải, nhận tiền, còn đâu Lão – Trang, còn đâu Cụ Huy! Sau khi sách ra, học giới tranh biện, phê phán làm phiền cho Cụ khôn xiết, trong đó có ý kiến các ông Trần Thanh Đạm, Đông La, Trần Văn Đoàn… mà NHC đuối lý, không bảo vệ được. Chẳng hạn, xem Đông La: Những điều cần bàn của một công trình triết học – Đọc “Tư tưởng phương Đông – gợi những điểm nhìn tham chiếu”, sách Biên độ của trí tưởng tượng. NXB Văn học, 2001, tr.191-205)…

Cũng tương tự, chuyện đối với thầy Thích Nhất Hạnh, không phải “thầy học”, mà là “thày chùa – thiền sư”. Năm 1974, trong “Việt Nam Phật giáo sử luận”, (T.I, NXB Lá Bối, Sài Gòn), Nguyễn Lang (tức thiền sư Thích Nhất Hạnh), trong chương 9: Tuệ Trung thượng sĩ (tr.269-298); dưới các mục: Diện Mục Tuệ Trung, Hoà Quang Đồng Trần, Đập Vỡ Thái Độ Bám Víu Vào Khái Niệm, Diệu Khúc Bản Lai Tu Cử Xướng, Đập Phá Quan Niệm Lưỡng Nguyên đã phát hiện ra Tuệ Trung mới chính là Trần Tung, con Trần Liễu, anh Trần Hưng Đạo (chứ không phải Trần Quốc Tảng, con Trần Hưng Đạo như Bùi Huy Bích viết trong Hoàng Việt thi tuyển). Thiền sư viết:

“Sách Hoàng Việt Văn Tuyển nói Tuệ Trung Thượng Sĩ là Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tảng, con lớn của Trần Hưng Đạo. Sự thực thì tuy Tuệ Trung Thượng Sĩ có tước hiệu là Hưng Ninh Vương, nhưng ông không phải tên là Trần Quốc Tảng cũng không phải là con Trần Hưng Đạo. Ông là anh cả của Trần Hưng Đạo, và tên ông là Trần Quốc Tung. Trần Nhân Tông, người khảo đính sách Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, trong bài Thượng Sĩ Hành Trạng in ở cuối sách có nói rõ “Tuệ Trung Thượng Sĩ là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương và là anh của Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Khi Đại Vương mất, hoàng đế Trần Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng Sĩ tước Hưng Ninh Vương”.

Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương là tước hiệu vua Trần Thái Tông ban cho Yên Sinh Vương Trần Liễu khi ông này mất. Đó là vào năm 1251. Cũng vào năm ấy Tuệ Trung Thượng Sĩ được 21 tuổi, và được phong tước Hưng Ninh Vương. Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm là con thứ 5 của Yên Sinh Vương Trần Liễu, tên là Thiều, là vợ của vua Trần Thánh Tông. Trần Hưng Đạo có một người con tên là Trần Quốc Tảng, nhưng tước hiệu là Hưng Nhượng Vương chứ không phải là Hưng Ninh Vương”.

Trong phần chú thích, Nguyễn Lang Thích Nhất Hạnh ghi rõ: Con cả của An Sinh Vương tên là Tung. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư trong phần nói về vua Trần Minh Tông, có ghi lời bàn của Ngô Sĩ Liên như sau:

“Vua vốn là người hậu với thân thuộc trong họ, đối với người vai trên mà quý hiển lại càng tôn kính lắm. Phàm kẻ thần hạ người nào có tên trùng với những người ấy đều đổi cho tên khác. Người nào tên là Độ đổi thành tên Sư Mạnh vì tên Độ trùng với tên của Thượng Phụ (Trần Thủ Độ), tên là Tung thì đổi làm Thúc Cao, vì tên Tung trùng với tên của Ninh Hưng Vương con trưởng của An Sinh Vương”.

Có những bản in lầm An Sinh Vương thành An Ninh Vương. Ta chưa từng nghe có ai có tước hiệu An Ninh Vương bao giờ. Hưng Ninh Vương là con của An Sinh Vương Trần Liễu. Chữ sinh trong An Sinh Vương hẳn đã bị khắc lầm thành chữ Ninh chỉ vì trước đó đã có chữ ninh trong Hưng Ninh Vương (chú thích của Nguyễn Lang).

Như thế là đã rõ, là rất chi tiết và thuyết phục. Ông NHC trong Thơ văn Lý – Trần (t.I, H., 1977, tr.113-115) cũng “tìm hiểu đích xác Tuệ Trung Thượng Sĩ là ai” (tr.114), đã viết lại những phát hiện của thiền sư Thích Nhất Hạnh mà xem như đó là phát hiện của chính mình. Đến bài viết “Trần Tung, một gương mặt lạ trong làng thơ thiền thời Lý – Trần”, Tạp chí Văn học (số 4-1977), ông NHC mới viết ở phần chú thích: “Cũng xin nói thêm là trong quá trình biên soạn bộ sách Thơ văn Lý – Trần, chúng tôi đã phát hiện ra vấn đề này tương đối sớm, và đã có dịp trình bày sơ lược trong phần khảo luận đầu sách. Gần đây, có đồng chí mách cho biết: trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (Lá Bối; Sài Gòn; 1974), Nguyễn Lang cũng có ý kiến giống chúng tôi về tác giả đích thực của Thượng Sĩ Ngữ Lục. Tuy nhiên, tìm đọc kỹ những điều ông Nguyễn Lang đã viết, chúng tôi vẫn thấy cần có một bài báo nói kỹ hơn về những tìm tòi của mình để bạn đọc tham khảo. Vì không những tài liệu và lập luận của chúng tôi có khác, mà cách đánh giá của chúng tôi đối với thơ văn Trần Tung cũng không giống Nguyễn Lang. Vả chăng, cho đến nay, mặc dầu đã có ý kiến sơ bộ của ông Nguyễn Lang, dư luận chung vẫn coi Trần Quốc Tảng là tác giả của Thượng Sĩ Ngữ Lục”.

Thực là khó tin! Sau khi Nam Bắc đã thống nhất, mà một bộ sách nghiên cứu nổi tiếng của một nhân vật nổi tiếng uyên bác như vậy và viết bằng tiếng Việt chứ phải tiếng Tây, tiếng U gì đâu, lại không đến một viện nghiên cứu chuyên ngành, lại đang làm thơ văn Phật giáo! (Còn nhớ, hồi ấy cán bộ Viện trong đó có NHC nườm nượp vào Nam, làm gì một cuốn tài liệu quan thiết đến như vậy mà NHC lại không có, không biết, đến nỗi “gần đây, có đồng chí mách cho biết, trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (Lá Bối, Sài Gòn, 1974) Nguyễn Lang cũng có ý kiến giống chúng tôi về tác giả đích thực của Thượng Sĩ Ngữ Lục”. Tư liệu là không khí của nhà nghiên cứu, sao NHC phải đợi có người mách cho một chuyện tày đình như vậy! Dù sao, trong nghiên cứu, có một “luật tục”: ai phát hiện, phát minh ra cái gì, căn cứ vào năm họ đăng ký bằng tác phẩm được công bố. Thí dụ trong trường hợp này: phát hiện Tuệ Trung là Trần Tung đích xác thuộc về Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh), công bố tại Sài Gòn từ năm 1974; trước NHC (1977) đến ba, bốn năm trời. Lý đơn giản là như vậy. Nhưng thôi, chắc chắn là thiền sư Thích Nhất Hạnh chẳng để ý tranh giành tác quyền gì về chuyện đó, còn chúng ta, thì ai tin NHC cứ tin, cũng không mất gì! Cũng không có gì quan trọng lắm đâu một việc “phát hiện” như thế. Trần Nhân Tông chẳng đã nói rõ ràng trong “Thượng Sĩ Hành Trạng”, Tuệ Trung là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương là tước hiệu của vua Trần Thái Tông ban cho anh ruột là Yên Sinh Vương Trần Liễu khi ông này mất… Thế thì “phát hiện này là của Trần Nhân Tông (1258-1308) chứ! Đã vậy, cái cách NHC nói về Nguyễn Lang lại thiếu hẳn sự khiêm tốn của một người đi sau. Ông cho rằng “cách đánh giá của chúng tôi đối với thơ văn Trần Tung cũng không giống Nguyễn Lang” (Bđd, tr.116). Không giống như thế nào? Ông NHC bảo là “thơ thiền của Trần Tung sẽ chỉ có một ý nghĩa nhất định với chúng ta chừng nào nó vẫn còn là thơ, là thơ của thế tục, hoặc là thơ có dính dáng ít nhiều đến thế tục, chứ chưa hoàn toàn là Thiền” (tr.127)…

Ơ hay! Thơ Thiền là thơ Thiền, còn có dính đến thế tục hay không là chuyện khác. Thế thơ Thiền của Trung Hoa, Nhật Bản, ViệtNam(những bài thơ Thiền chân chính, thuần khiết nhất của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông chẳng hạn…) là không, còn ý nghĩa ư? Thực ra thì trong bài viết, để cố chứng minh mình độc lập có được phát hiện này, ông NHC đã tự bộc lộ nhiều cái chưa ngộ Thiền, chưa thông Phật học, chưa quán Tuệ Trung… Ông cho rằng: Tuệ Trung “tồn tại một nhà duy lý, ẩn náu bên trong một con người Thiền”, Tuệ Trung “yêu cầu một sự kiểm chứng bằng lý trí”… “một cái nhìn tương đối sáng và tỉnh, một ý thức thường trực làm “bản ngã”, một sự lựa chọn dứt khoát chỗ đứng ở cõi trần” (Bđd, Tạp chí Văn học, 1977), “Trần Tung bẻ gãy và lật ngược lại nhiều mệnh đề Phật giáo xưa nay vốn lưu truyền!”, “Chủ nghĩa tương đối”, “tâm lý hư vô”, “coi tất cả là phi lý, đánh đồng cái chân và cái giả” (Từ điển văn học, H., NXB Thế giới, 2004, tr.1812).

Những điều đánh giá này, có lẽ vào lúc NHC đang “xin vào Đảng” như ông Đông La nói, nên nó chứng tỏ một lập trường mác – xít giản đơn, thô thiển, áp đặt và đại ngôn! Thực ra thì Trần Tung là một nhà Thiền học (Thiền chứ không phải Phật giáo nói chung) muốn siêu việt lên trên tất cả những phạm trù nhị nguyên. Xem cách phân tích của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một Thiền sư, một học giả, rất dung dị mà hiểu sâu và đúng về Tuệ Trung. Đó là điều chẳng có gì đáng nghi ngờ nhưng đây không phải chỗ để chúng tôi đi sâu phân tích. Cần nói là sau này, ông NHC lại tất tả đi in lại bộ Việt Nam Phật giáo sử luận. Với con người như của NHC, đây là một động thái không đơn giản!

 Kết luận lại, tôi chỉ nói một điều giản dị thôi: ông NHC tự cho rằng việc ông tìm ra thơ văn của nhà sư uyên bác, đồng thời là võ tướng có nhiều công lao dẹp giặc này là một cống hiến vô cùng quý giá” (Thơ văn Lý – Trần, t.I, tr.113). Tôi hoàn toàn đồng ý, với một chú thích nhỏ: Từ năm 1969 ở Sài Gòn, Trúc Thiên tìm ra, đã dịch và công bố Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục (Đại học Vạn Hạnh xuất bản, in lại 1974), tức là phát hiện và dịch trước ông NHC khoảng mười năm, còn về văn bản chữ Hán của tác phẩm này thì ít ra từ đời Chính Hòa thứ 4 (1683) đến đời Thành Thái (1903), Phật giáo Việt Nam vẫn in lại. Cho nên cái “cống hiến vô cùng quí giá” đó mà ông NHC nhận về mình cũng rất nên phải xem lại.

Bây giờ nói đến chuyện luận án Tiến sĩ “Giai nhân kỳ ngộ diễn ca trong văn học Duy Tân yêu nước đầu thế kỷ XX” của Trần Hải Yến (Viện Văn học – 2002) và bài “Giai nhân kỳ ngộ diễn ca, một thể nghiệm mới của Phan Châu Trinh về truyện thơ lục bát” của ông NHC in trên tạp chí Thời đại mới (Tạp chí nghiên cứu và thảo luận – một tạp chí mạng ở Hoa Kỳ (số 9, 11/2006). Bà Trần Hải Yến, như trong Thư mục tham khảo của luận án cho thấy, biết 4 ngoại ngữ: Hoa, Nhật, Anh, Pháp. Đây là một luận án do PGS-TS Phạm Tú Châu hướng dẫn và đã bảo vệ thành công xuất sắc. Đọc luận án thì thấy không có cái gì dính líu đến Giai nhân mà không được đề cập thấu đáo, sâu sắc, uyên bác, kỹ lưỡng, kể cả vấn đề thể loại “Truyện thơ lục bát”. Thế thì bà Trần Hải Yến còn lép cái nỗi gì để ông NHC rút ruột cái luận án ấy mà viết bài báo trên, rồi sau khi bị phản ứng, phải gỡ xuống và từ đó đến nay không thấy công bố ở trong nước, ngoài nước. Bà Trần Hải Yến cũng như bất cứ một nghiên cứu sinh nào khác, phải đề ở đầu luận án câu này “Xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nhận định và kết luận của luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác” và ký tên. Ông NHC có dám viết câu này khi viết bài báo nói trên không? Thế là cái bài báo ấy nó là “của em” chứ không phải “của anh”, “của thầy”.

Chữ Hán có thành ngữ: “Đoạt thai, hoán cốt”, nói về việc “rút ruột” và ém nhẹm, phi tang. Vì thế có hai câu tóm tắt chương này:

Tiểu xảo, “đoạt thai” Trần Hải Yến

Đại ngôn, “hoán cốt” Thích Thiền Sư

*

**

Bây giờ, xin qua chuyện chữ Tây của ông NHC để “giải lao” – thư giãn. Tôi không phải là chuyên gia tiếng Pháp, chỉ là học trò tiếng Pháp và tự học nên lẽ ra không nên nói chuyện này nhưng vì ông NHC lâu lâu viết bài cũng lại chưng ra một ít chữ Pháp bằng cách trích dùng một vài từ điển loại phổ thông để tỏ ra mình là người cũng rành tiếng Pháp. Một bà bạn ở Viện Văn học khi xưa còn cho biết “ông NHC làm Dự án về văn học Phần Lan (“Đường vào văn hóa Phần Lan” – 1966) để tỏ ra mình biết tiếng Pháp”. Một ông cụ vốn trước kia là học trò Trường Bưởi, sinh viên Luật Hà Nội, lại đã làm Hiệu trưởng trường Trung học Pháp – Việt, cho biết trong khi chú thích sách, ông NHC phải đi hỏi từng chữ Pháp cơ bản để chú thích. Không biết thì hỏi, đó là điều tốt. Nhưng thực tình, trình độ tiếng Pháp của ông NHC còn khá yếu. Chẳng hạn như nappe, theo lời học giả kia thì ông NHC cho là cái tấm vải trải giường (drap). Nappe trong Nam vẫn dùng nap, và bà xã tôi luôn nói “tấm nap bàn”, tức cái tấm khăn trải bàn, nó đã trở thành từ Việt (gốc Pháp) mất rồi, mà ông không biết.

Trong tập sách biên soạn Truyện ngắn Nam Phong (NXB KHXH, H., 1989), trang 131, NHC chú “tàu xúp-lê” là “tiếng Pháp: Souffler: thổi còi”. Chú giải như vậy là sai. Siffler mới là thổi còi, còn Souffler chỉ có nghĩa là như gió thổi (le vent souffler), thổi tắt ngọn nến (souffler la bougie). Souffler còn nhiều nghĩa nữa. Vậy hai chữ khác nhau chỉ chữ i và o. Chúng tôi xin đưa hai lệ chứng về chữ xíp-lê như sau:

“Nghe xíp-lê một chút rồi ngó thấy xe lửa rần rần chạy tới. Bé Hậu mừng rỡ nên đứng vỗ tay la om sòm” (Đoạn tình – Hồ Biểu Chánh).

“Tàu xíp-lê, kéo neo, xịch xịch chạy. Hai giờ đêm đến bến Hà Thành. Đèn điện sáng trưng, cô thông nom cũng choáng mắt” (Con người Sở Khanh – Phạm Duy Tốn).

Tiếng Pháp như thế thì chẳng có gì đáng tự hào vì ta vốn là nước thuộc địa của Tây xưa, một nước dùng tiếng Pháp, nhiều người tiếng Pháp giỏi lắm.

Ông NHC hầu như không làm công trình riêng. Ông chuyên đi “chủ biên” lấy bài nhiều người khác in, viết Lời giới thiệu rồi đề mình chủ biên (Trường hợp cuốn sách “Hoàng Ngọc Phách – đường đời và đường văn” (chuyên khảo, sưu tầm, tuyển chọn, 1966) sao lại đề là tác phẩm chính, in riêng của mình? (xem “Nhà văn hiện đại”, H., 2007, tr.150). Cuốn này chủ yếu là tác phẩm của cụ Hoàng Ngọc Phách, vậy phải đề tác giả là Hoàng Ngọc Phách, NHC sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu… mới phải.

Kể ra cũng lợi. Ngay cả cuốn “Từ điển văn học” khởi đầu do GS Đỗ Đức Hiểu chủ biên; GS Đỗ mất, ông đem ra thêm bớt, in lại (dịp khác ta sẽ bàn, các ông Đặng Tiến, Nguyễn Hữu Sơn và nhiều người khác đã có bài nhận xét sơ bộ, nhưng chưa thấy ai nói rõ điều này: ông đem cả nhà ông vào Từ điển, bất chấp họ có là nhân vật văn học hay không (có thể họ là sử, giáo dục, đạo đức học…, chứ quá ít dính đến văn), và ông thích ai thì đưa vào, không thích thì gạt (Chẳng hạn, tại sao ông lại gạt GS Hoàng Trinh vốn là người lãnh đạo của Viện mà lại đưa nhiều người có ít công trình hơn GS Trinh – vì “tư thù, tư oán” gì chăng? Ưng Quả, Bửu Kế, Nguyễn Khoa Vy… ở Huế sao không được đưa vào từ điển. Tại sao từ điển lại dừng ở những năm 60 của thế kỷ trước và thiếu không biết bao nhiêu người? Ông đã bộc lộ chủ tâm là ông muốn đưa vào cả những nhân vật văn học không hề đáng đưa một tí nào, nhưng không lọt. Ông “dương” người này, “ức”  người kia. Làm từ điển phải có chuẩn, phải khoa học, vô tư, khách quan. Cuốn này còn cần phải thảo luận nhiều.

Lời Tạm Kết

Ông NHC đã dồn tôi vào thế phải lên tiếng, làm tôi mất rất nhiều thời gian và công sức. Nếu tôi phải “thất lễ” với ông, thì ông nên trách mình và nên thông cảm với người. Thật lòng tôi rất chán phải nói những chuyện u ám này. Đời thiếu gì trời xanh, hoa tươi, người tốt… mà phải chui vào cái cõi u minh và vạch cái tối tăm của người này, người kia, nói tắt là phải đi “dọn rác”. Không phải tôi muốn “hạ” ông NHC, để mình “cao” lên. Không, tôi vẫn chỉ là tôi thôi, “người là thế ấy, ta là thế thôi!” (Ngô khởi hiếu biện tai! Ngô bất đắc dĩ dã) (Mạnh Tử). Tôi cố ý tránh tranh biện với ông NHC từ mấy chục năm rồi. Một là, rất không rảnh. Hai là, nhớ lời dạy của cụ Hoài Thanh khi làm nhân viên của cụ ở Viện: “Việc lớn xem là nhỏ, việc nhỏ coi như không có”, và lời của anh Nguyễn Đình Thi, thủ trưởng một thời của tôi: “Đối xử tốt ngay cả với người xử xấu với mình”. Trong đời, phải “lòng chợt từ bi bất ngờ”, phải có “một tấm lòng” như lời ca Trịnh Công Sơn. Tôi nghe đầy tai về chuyện ông NHC, ông NHC xử với tôi ra sao, hẳn ông là người biết rõ nhất. Nhiều bạn bè Hà Nội nói lại với tôi và còn “phê” tôi: “Tại sao ông NHC nói xấu về ông như thế, còn ông lại đi nói tốt cho ông ấy?” Tôi chỉ cười: “NHC là người làm việc, làm được nhiều việc. Người như thế hiện không có nhiều. Còn chuyện cá nhân, thì bỏ qua đi, cho nó nhẹ người”. Tôi và nhiều bạn vẫn đánh giá tốt ông NHC ở những bài, những chỗ mà ông chính là ông, không cần “bành trướng” nâng lên “quân Tào có 30 vạn nói thặng lên thành 100 vạn”. Ông không cần phải lên gân ráng sức quá sức mình, nguy hiểm cho sức khỏe. Tôi làm theo phương châm của các vị thầy, nên thừa biết là ông đã làm gì sau lưng chúng tôi (kể cả quay ngoắt 1800 trong vụ ông Nguyễn Quảng Tuân để thực hiện một ý đồ), chúng tôi cũng chẳng lạ và cho qua, để lo việc khác, thú hơn.

Nhưng nay thì ông đã đi quá xa về chính trị và học thuật, và ông chủ động tấn công, nên tôi buộc lòng phải lên tiếng tự vệ. Xin tạm kết đôi điều:

 Về mặt chính trị: ông NHC muốn giương cờ làm “nhà dân chủ” ở Việt Nam, đó là sự chọn lựa của ông. Ông NHC cũng đã từng có kinh nghiệm về hoạt động này nhiều năm: kinh nghiệm Nội Bài, kinh nghiệm viết bài trên các mạng nước ngoài; gần đây lại đã dẫn đầu một đoàn quỳ lạy trước quan tài “nhà dân chủ” Hoàng Minh Chính, cũng như dẫn đầu đưa đơn về vụ Thơ Trần Dần… Đó là chuyện của ông. Nhưng, ông không nên vu cáo, chửi bới những người khác – khác chính kiến, khác cách làm, khác lộ trình… “Dân chủ” mà như thế sao được? Dân chủ trước hết là phải tôn trọng những người khác ý kiến với mình, chứ đâu lại thô bạo, thô lỗ như một kẻ vô học, vô đạo thế. Theo tôi, ông không phải là người dân chủ. Ông đã từng tham vọng học thuật một cách “bá đạo”, nay nhảy sang làm chính trị lúc cuối đời. Tôi mong ông hãy suy nghĩ lại cho kỹ, đừng quá nóng giận mà mất khôn. Làm chính trị chẳng dễ hơn làm nghiên cứu đâu, ông NHC ơi!. Còn về văn học thì chúng ta có lạ gì nhau. Dẫu sao xưa kia cũng từng là người cùng một tổ chuyên môn của một Viện, người cùng lớp Hán học, bây giờ tuy cư trú hai miền nhưng có lúc còn gặp mặt nhau, trong một Hội đồng chấm luận án tiến sĩ hay cuộc họp này họp kia, vậy vui vẻ là hơn anh NHC ạ. Đời ngắn lắm, anh đã “xưa nay hiếm” rồi đấy nhỉ, vậy thì “còn gặp nhau thì hãy cứ dzui” như một câu thơ dễ thương của bà Tôn Nữ Hỷ Khương mà anh chị em hay nhắc, việc gì mà thù hằn nhau, sân si nhau sâu sắc thế!. Đời rộng dài, biển học bao la, sức ta có hạn, lo tập trung mà làm việc, may ra còn được chút đỉnh ích lợi cho đời:

Ta chợt biết rằng vì sao ta sống-

Vì đất nước cần một trái tim

(Trịnh Công Sơn)

Miễn trái tim ấy là một trái tim nhân hậu, chứ không phải “nhất thế tử tâm hoài đại độc” như Nguyễn Du nói.

***

Có Nhà Nghiên cứu, nghe chuyện, có thơ rằng:

Đâu ngờ người ấy chẳng ra chi!

Vu cáo người ta phỏng ích gì?

“Dân chủ”, lập trường còn khuất tất,

Văn chương, chữ nghĩa đáng hoài nghi.

“Thiệp phiên” đâu phải là “qua bến”,

Síp – lê ắt hẳn phải dùng i.

Tây Tàu thôi thế nên siêng học,

Giáo sư đừng để bị khinh khi.

 

Tôi xin phụng họa, tấp tểnh “nối điêu” bài xướng như sau:

 

Hóng hớt, thâm thù có ích chi!

Nói năng hỗn ẩu có ra gì?

Dân chủ chớ nên dùng vu cáo,

Văn chương hẳn phải tránh hiềm nghi.

“Phên dậu” ngàn năm chưa hóa bến,

“Síp – lê” vạn thuở vẫn nguyên i.

Nhớ lời Phật dạy, sân si dứt,

“Bất kị bất cầu” , phúc có khi.

 

Trà hoa hạng – Phú Nhuận

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 2008